• KẾ THỪA VÀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC PHONG THỦY (hotline: 0968307141)

Hỗ trợ tư vấn trực tuyến

  • CÁT HUNG NĂM 2015 VÀ PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI CÁT HUNG NĂM 2015 VÀ PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI

    ...xem chi tiết

  • KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

    Y học phương đông là một khoa học đặc biệt đi theo con đường suy lý. Phương pháp suy lý đi từ những nguyên lý đã được chấp nhận là đúng, để suy dần ra mọi hiệu quả, và áp dụng vào mọi trường hợp. Đó là phương pháp của Dịch học

    ...xem chi tiết

  • CÁC VẬT PHẨM PHONG THỦY

    Vật phẩm phong thủy đem lại tài lộc, sức khỏe cho gia đình

    ...xem chi tiết

  • TẾT GIÁP NGỌ 2014

    Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ

    Nhân sinh bách hạnh, hiếu vi tiên

    ...xem chi tiết

  • TẢ AO ĐỊA LÝ TOÀN THƯ (P1)

    Mấy lời để truyền hậu thế

    AI học địa lý theo học Tả Ao

    Một là hay học càng cao

    Hai là cố ý cứ lời phương ngôn

    Ba là học thuộc Dã đàm

    ...xem chi tiết

  • BẢNG TRA TUỔI, NGŨ HÀNH VÀ MỆNH NIÊN TRONG NHÂN SỰ

    Bảng mệnh niên các năm và mệnh cung của nam và nữ. Cột 5 là xác định mệnh niên trong việc tính toán tuổi kết hôn. Cột 6 là cung mệnh của Nam, cột 7 là cung mệnh của Nữ trong việc xem tuổi chọn hướng nhà, hướng bàn làm việc...

    ...xem chi tiết

  • Bảng tra cung mệnh với hướng tạo ra các khí tốt - xấu

    Bảng tra cung mệnh với hướng tạo ra các khí tốt - xấu

    ...xem chi tiết

  • Ý NGHĨA CỦA 8 HƯỚNG KHÍ

    Trong phong thủy Bát trạch được chia làm 8 hướng và tương ứng với 8 hướng là 8 khí - tượng trưng cho 8 ngôi sao, với tính chất tốt xấu khác nhau mà hướng nhà kết hợp với cung mệnh của chủ nhà tạo nên 

    ...xem chi tiết

  • PHƯƠNG VỊ BÁT TRẠCH

    Bát trạch là sản phẩm của kinh dịch. Mọi yếu tố tốt xấu của 8 hướng nhà so với từng cung mệnh đều dựa trên lý luận của kinh dịch để luận đoán

    ...xem chi tiết

  • THIÊN CAN-ĐỊA CHI

    Trong mỗi quan hệ trời - đất - con người thì yếu tố "thiên" rất được coi trọng và có tác động rất lớn đối với con người và trái đất. Chính vì vậy mà Thiên can có tác động rất lớn đối với mỗi chúng ta. Tất cả có 10 thiên can, trong đó có 5 thiên can âm và 5 thiên can dương. Và chúng đều có mỗi quan hệ tương sinh tương khắc lẫn nhau cũng như mỗi thiên can được quy định ở từng ngũ hành khác nhau.

    ...xem chi tiết

  • Ngũ hành phối với các phương vị

    Trong phong thủy bát trạch có 8 phương hướng khác và trung tâm. Mỗi phương hướng và trung tâm cũng được quy định thành các ngũ hành khác nhau, và các phương hướng này cũng có mỗi quan hệ tương sinh và tương khắc lẫn nhau để tạo nên thế giới này.

    ...xem chi tiết

  • Ngũ Hành Phối Với Màu Sắc

    Trong Thế giới có muôn vàn màu sắc khác nhau, nhưng chúng đều được quy tụ lại thành 5 màu chính và mỗi màu chính này lại tượng trưng cho một ngũ hành khác nhau. Tất cả màu sắc đều có ngũ hành và có mỗi quan hệ tương sinh và tương khắc lẫn nhau.

    ...xem chi tiết

  • Ngũ Hành Tương Sinh -Tương Khắc

    Vạn vật đều có mỗi quan hệ lẫn nhau, trong đó có cái này chuyển hóa hay sinh cho cái khác và ngược lại là khắc chế và chống chọi. Từ đó mà tạo ra thế giới vật chất trong đó có con người chũng ta cũng có mỗi quan hệ sinh - khắc

    ...xem chi tiết

  • Học thuyết Âm Dương - Ngũ Hành

    Văn hoá phương Đông là một kho kiến thức thần kỳ cho nhân loại từ cổ tới kim. Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh ở phương Đông thời kỳ Cổ - Trung đại. Cùng với những phát minh có tính chất vạch đường lối trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên, y học, thiên văn học…

    ...xem chi tiết

Thống Kê

Tứ Trụ

  • CÁC BƯỚC DỰ ĐOÁN TỨ TRỤ

    1.      Xác nhận lại ngày giờ sinh cho chuẩn xác

    2.      Sắp xếp Tứ trụ chính xác, gồm cả mười thần thấu rõ và tàng, kể cả thần, sát . Sau đó sắp xếp đại vận , lấy số đại vận, mười thần của can vận ( nếu đoán sự việc cho một năm nào đó, còn cần sắp xếp cả tiểu vận, lưu niên ).

    3.      Xem ngũ hành của nhật can sinh vào thánh vượng hay tháng suy.

    4.      Xem nhật can có được khí của các địa chi khác không.

    5.      Xem nhật can có được ấn tinh của can chị sinh phù không

    6.      Xem nhật can có được các can khác giúp thêm không.

    7.      Xem các thiên can khác sinh vào tháng vượng hay tháng suy. Thống kê lại để ước lượng xem thân vượng hay thân nhược.

    8.      Tìm dụng thần và kị thần.

    9.      Xác định các cách cục : giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu.

    10.  Xác định các vận : hưng, suy ,cát, hung và phân biệt với các vận bình thường.

    11.  Xác định năm tốt nhất, xấu nhất trong cuộc đời và ứng vào việc nào, người nào.

    Kết hợp  xem luôn cả tính tình, tướng mạo, nhân các, quan tài, sự nghiệp, bệnh tật, hôn nhân, con cái, v.v

    Điều kiện cơ bản của dự đoán là yêu cầu người muốn đoán phải cung cấp chính xác :năm tháng ngày giờ sinh, phải khẳng định chính xác mới dự đoán được . Rất dễ nhầm lẫn là không phân biệt rõ ranh giới ngày hôm trước và ngày hôm sau, nhất là những người ở nông thôn thường chỉ nhớ tối ngày hôm trước, giờ tí hoặc  lúc gà gáy lần thứ nhất. Thực tế thì giờ tí đã là ngày hôm sau rồi nhưng quên thêm một ngày. Ngày sinh  đã sai là sai toàn bộ vì về bản chất mà nói, đó không còn là Tứ trụ  của người đó nữa. Giờ tí là ranh giới giữa ngày hôm trước và ngày hôm sau, mà 23 giờ đã là giờ tí rồi ( tức từ 23 giờ đến trước 1 giờ ). Nhưng người nông dân thường lấy 24 giờ, tức từ không giờ trở đi mới tinh là bắt đầu ngày hôm sau. Do đó cần phải hỏi giờ cho cụ thể. Ngoài ra ở thời điểm cuối giờ lẻ cũng phải hỏi cho rõ, ví dụ trước ba giờ là giờ sửu, sau ba giờ là giờ dần.

    Nói chung, cung cấp ngày giờ không tin cậy thì không nên đoán vì thứ nhất là phải đảm bảo đảm tính trách nhiệm cao về lời nói của mình, thứ hai là phải trọng danh dự của mình, ngoài ra cũng nên lưu ý, khi đoán sai, sẽ gây ảnh hưởng xấu cho “Chu dịch ứng dụng”, làm mất lòng tinh.

    Sắp xếp Tứ trụ chính xác là nội dung cơ bản của dự đoán. Viết ngày giờ sinh xong, ghi rõ các can tàng trong địa chi. Sau đó căn cứ vào can ngày, xác định mười thần của các thiên can lộ ra và cả các can tàng. Số bắt đầu của đại vận có thể kết hợp tính lúc tra can chi, theo quy tắc đếm thuận hay đếm ngược, cứ ba ngày tính thành một năm để tính các đại vận. Sau khi xếp xong đại vận , ghi mười thần tương ứng với can vận, và cứ mười năm là một đại vận. Cuối cùng theo bảng thần, sát, ghi tên gọi tắt các thần sát lên góc phải phía trên để khi dự đoán có thể nhìn thấy ngay thần, sát gặp lục thần của cung nào, xung khắc ở gần  hay xa, mức độ ảnh hưởng của nó. Đồng thời cũng thấy được thần, sát gặp lục thân của cung nào, người đó được hưởng âm phúc của ai hay hung sát sẽ gây tác hại cho ai. Nếu cần phải xếp tiểu vận,lưu niên thì ghi chung xuống phía dưới của đại vận đó để dễ thấy rõ mức độ chúng hình xung khắc hợp với đại vận.

    Xếp xong Tứ trụ bắt đầu thẩm tra lại lực lượng vượng suy của các ngũ hành.

    Đầu tiên xem ngũ hành của nhật can sinh vào tháng vượng hay nhược để biết nhật can được lệnh hay không. Phân lệnh tháng là trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng đều là nhật can được lệnh tháng.

    Tiếp đến xem nhật can trong khi các chi khác là ở vào đất trường sinh, lộc, kình dương  hay mộ, kho, có khí có gốc là đắt địa.

    Lại xem nhật can trong các thiên can và địa chi có được chính ấn, thiên ấn sinh phù hay không, có ấn tinh là được sinh.

    Xem nhật can trong các thiên can khác có ngang vai, kiếp tài để giúp thân không. Có sao tỉ kiếp là được trợ giúp.

    Tổng hợp các yếu tố : được lệnh, đắc địa, được sinh, được trợ giúp, tuỳ theo mức độ sinh, khắc, hình hợp xung hại , xa gần để có sự tăng giảm hợp lý. Sau đó lại tổng hợp các yếu tố : quan sát khắc nhật can ; chính tài thiên tài làm hao tổn nhật can ; thực thương làm xì hơi nhật can, tuỳ theo mức độ sinh khắc, hình hợp xung hại, xa gần để tăng giảm. So sánh hai bên, nếu lực sinh phù nhật can càng lớn là thân vượng. Ngược lại lực khắc, xì hơi, làm hao tổn lớn hơn là thân nhược.

    Thân vượng nên chọn cái khắc, xì hơi, làm hao tổn thân là dụng thần ; lấy cái sinh thân, giúp thân làm kị thần. Thân nhược thì ngược lại. Cách chọn dụng thần và kị thần là phải căn cứ vào sự chọn lựa hợp lý các tổ hợp của Tứ trụ . Chủ yếu lấy hỉ,kị của tài quan làm chuẩn.

    Lấy dụng thần có lực, có tình, kị thần có chế áp, có hoá hay không để xác định giới hạn giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu, xác định các thứ lớp mà mệnh vận người đoán có thể đạt được.

    Lại xét xem dụng thần có đến ngôi hay không, bị khắc hay không, có cứu hay không có cứu để định ra giới hạn giữa các đại vận tốt, xấu và các vận thường, xác định vận tốt nhất, vận xấu nhất, vận bình thường vào các đoạn tuổi nào của người dự đoán.

    Trong vận tốt lại cần làm rõ những năm nào tốt nhất, những năm nào tốt vừa phải, năm nào kém hơn ; trong vận xấu cũng cần làm rõ những năm nào xấu nhất, năm nào tạm đỡ và năm nào gặp hung hóa cát, trong vận bình thường, năm nào trắc trở. Tổ hợp của đại vận ở thời kì tốt nhất là tốt đến mức nào, căn cứ vào mười thần thì ứng vào việc gì là chính. Ngược lại tổ hợp của đại vận  ở thời kì xấu nhất là xấu đến mức độ nào, ứng vào việc gì là chính. Ưng vào minh hay ứng vào người thân bị khắc, hay đều bị sinh khắc hoặc đều bị xung hợp.

    Cuối cùng dự đoán ra nội dung bị sinh khắc hay bị xung hợp . Ví dụ: ngũ hành bị xung hợp hay bị sinh khắc ứng vào bệnh tật hay công tác, lục thân, buôn bán, v.v. mười thần bị xung hợp hay bị sinh khắc ứng vào hôn nhân hay tài vận, quan vận, ốm đau, hay thọ yểu, v.v.. Cũng có sách cùng bàn chung ngũ hành với mười thần. Như khi kiêu thần đoạt thực thần (mười thần sinh khắc xung hợp ), năm đoạt thực thần vừa ứng vào ốm đau, cũng có thể ứng vào công tác, buôn bán, cung mà lục thân ứng vào bị ốm đau, thậm chí ảnh hưởng đến tuổi thọ của mình hoặc người thân.

    Như thế là địa chi năm đó tương xung với địa chi trong Tứ trụ , vì thế mà thành kị thần. Tháng tương xung thì mình hoặc là lục thân ứng với cung bị xung nhất định sẽ gặp nạn. Lúc kết thúc dự đoán hoặc trước khi dự đoán nên kết hợp giữa mệnh cục  và đại vận, tổng hợp cân bằng các thần, sát để bàn về tính cách của người  đến đoán. Căn cứ vào Tứ trụ  sinh hóa có tình hay không để đoán người đó là người có tình nghĩa đến đâu. Từ tính hàn ôn thấp táo trong Tứ trụ cũng có thể thấy được đó là người nhiệt tình, hòa hợp với mọi người hay là người lãnh đạm, xa lánh mọi người. Qua Tứ trụ cương nhu, trung chính hay nhu nhược, thiên khô (tức Tứ trụ có nhiều tổ hợp xấu) có thể biết được người đó là quân tử hay tiểu nhân. Cho dù là người đoán hay độc giả đều cần có sự hiểu biết căn bản đối với người được đoán, bao gồm bản thân họ và con cái họ, như thế sẽ có ích cho việc kết bạn, giao thiệp, sẽ gần  người tốt, tránh xa kẻ xấu, giúp cho sự lựa chọn và phát triển nghề nghiệp được tốt hoặc tự nhắc mình cảnh giác đúng lúc , hoặc có thái độ đối xử với người được dự đoán cho hợp tình hợp lý.

     

    ...xem chi tiết

  • ĐẶC TRƯNG CỦA TỨ TRỤ

    Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng.

    ...xem chi tiết

  • VIÊM XOANG, VIÊM MŨI DỊ ỨNG

    VIÊM XOANG MŨI DỊ ỨNG

    Bệnh thường xuyên xẩy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất là khi thời tiết thay đổi hoặc khi người bệnh gặp các tác nhân gây bệnh dị ứng như: Bụi phấn hoa, chất kích thích....
     

    ...xem chi tiết

  • THUỐC NAM CHỮA BÍ TIỂU VÀ BỆNH HÔI NÁCH

    BÀI THUỐC NAM CHỮA BÊNH BÍ TIỂU, Ứ TỨC BÀNG QUANG VÀ HÔI NÁCH

    ...xem chi tiết

  • THUỐC NAM CHỮA NÁM, MỤN

    THUỐC NAM VỊ THUỐC QUANH TA

    ...xem chi tiết

  • MẪN NGỨA MỀ ĐAY

    Người bệnh tự nhiên thấy ngứa từng đám rất khó chịu, gãi nhiều, càng gãi ngứa càng lan rộng, da vùng tổn thương dày lên từng mảng, phù nề, nóng bừng, toàn thân bứt rứt, rất khó chịu

    ...xem chi tiết

  • KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

    Y học phương đông là một khoa học đặc biệt đi theo con đường suy lý. Phương pháp suy lý đi từ những nguyên lý đã được chấp nhận là đúng, để suy dần ra mọi hiệu quả, và áp dụng vào mọi trường hợp. Đó là phương pháp của Dịch học

    ...xem chi tiết

  • ĐƯỜNG ĐI KINH LẠC VÀ CÁC HUYỆT CƠ BẢ

    LỘ TRÌNH VÀ HỘI CHỨNG BỆNH CỦA 12 KINH CHÍNH VÀ CÁC HUYỆT CƠ BẢN

    Mười hai kinh chính là phần chính của học thuyết Kinh lạc, gồm:
    - Ba kinh âm ở tay:
    + Kinh thủ thái âm Phế
    + Kinh thủ thiếu âm Tâm
    + Kinh thủ quyết âm Tâm bào.
    - Ba kinh dương ở tay:
    + Kinh thủ dương minh Đại trường
    + Kinh thủ thiếu dương Tam tiêu
    + Kinh thủ thái dương Tiểu trường.
    - Ba kinh âm ở chân:
    + Kinh túc thái âm Tỳ
    + Kinh túc quyết âm Can
    + Kinh túc thiếu âm Thận.
    - Ba kinh dương ở chân:
    + Kinh túc thái dương Bàng quang
    + Kinh túc thiếu dương Đởm
    + Kinh túc dương minh Vị.
    Mỗi kinh chính đều có vùng phân bố nhất định ở mặt ngoài của thân thể và tạng phủ bên trong. Vì vậy, mỗi kinh đều bao gồm một lộ trình bên ngoài và một lộ trình bên trong.
    Mỗi kinh đều có sự liên lạc giữa tạng và phủ có quan hệ biểu (ngoài nông) - lý (trong sâu), cho nên mỗi đường kinh đều có những phân nhánh để nối liền với kinh có quan hệ biểu lý với nó (ví dụ nối giữa phế và đại trường, giữa can và đởm...

    ...xem chi tiết

  • TỨ CHẨN

    TỨ CHẨN TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

    Đây là 4 phương pháp chẩn bệnh: Vọng (nhìn), Văn (nghe, ngửi), Vấn (hỏi), Thiết (sờ nắn, bắt mạch)

    ...xem chi tiết

  • Học thuyết Kinh lạc

    HỌC THUYẾT KINH LẠC

    ...xem chi tiết

  • Học thuyết Tạng, Phủ

    HỌC THUYẾT TẠNG PHỦ

    ...xem chi tiết

  • Học thuyết thiên nhân hợp nhất

    HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

    ...xem chi tiết

  • ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

    Bài 1:

    HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH

    TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

    ...xem chi tiết

Thống kê

ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN MẪN NGỨA MỀ ĐAY ĐƯỜNG ĐI KINH LẠC VÀ CÁC HUYỆT CƠ BẢ THUỐC NAM CHỮA NÁM, MỤN Học thuyết thiên nhân hợp nhất Học thuyết Tạng, Phủ THUỐC NAM CHỮA BÍ TIỂU VÀ BỆNH HÔI NÁCH VIÊM XOANG, VIÊM MŨI DỊ ỨNG Học thuyết Kinh lạc TỨ CHẨN KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

var addthis_config = {"data_track_addressbar":true};